hiện tượng phú dưỡng hóa

PHÚ DƯỠNG NGUỒN NƯỚC VÀ ĐẤT. KHÁI NIỆM . Phú dưỡng hóa xuất phát từ Hy lạp có nghĩa là "thừa dinh dưỡng", dùng để mô tả hiện tượng các ao hồ, hồ chứa nước có bùng nổ và phát triển rong tảo, cuối cùng có thể dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trừơng nước. Site De Rencontre Sur Paris Gratuit. Ao, hồ, kênh, sông có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Là môi trường sống của các loài thủy sinh, điều tiết nước mưa, đồng thời còn là nơi chứa và làm sạch nước thải. Nhưng hiện nay, với mức độ tăng dần của dân số, kèm theo đó là sự phát triển của kinh tế, xã hội, ngày càng nhiều chúng đang rơi vào tình trạng ô nhiễm, đặc biệt là hiện tượng phú dưỡng hóa gây ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi trường và sinh thái. Vậy, hiện tượng phú dưỡng nguồn nước – tác hại và cách kiểm soát NTS sẽ cùng bạn giải đáp vấn đề này qua bài viết sau đây. Các dạng tồn tại của nitơ và photpho trong nước thải Trong nước thải, nitơ tồn tại ở các dạng phổ biến và tương ứng với trạng thái oxi hóa của chúng như amoniacNH3, amoni NH4+, khí nito N2, nitrit NO2–, nitrat NO3–. Trong đó, tổng nitơ TN được xác định bao gồm nito amoni N-NH4+, nitơ nitrit N-NO2–, nito nitrat N-NO3– và nito hữu cơ. Nitơ hữu cơ bao gồm hỗn hợp các axit amin, đường amin, protein polime của axit amin. Các nitơ trong hợp chất này dễ dàng chuyển đổi thành amoni thông qua hoạt động của vi sinh vật. Nitơ là chất dinh dưỡng quan trọng trong quá trình phát triển của vi sinh trong các công trình xử lý sinh học. Photpho cũng giống như nitơ, cũng là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho vi khuẩn phát triển trong các hệ thống xử lý nước thải. Các dạng photpho trong nước gồm orthophosphate PO43-, HPO42-, H2PO4–, H3PO4, polyphosphate và phosphate hữu cơ. Thành phần nitơ và photpho bắt nguồn từ chất thải là phân, nước tiểu, ure, phân bón dùng trong nông nghiệp và các chất tẩy rửa dùng trong sinh hoạt hằng ngày,… Nếu nồng độ của chúng thải xả ra nguồn nước tự nhiên vượt quá mức cho phép sẽ kích thích sự phát triển của rêu, tảo làm bẩn nguồn nước, gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn nước. Hiện tượng phú dưỡng là một dạng biểu hiện của ao hồ bị ô nhiễm do dư thừa các chất dinh dưỡng khi hàm lượng nitơ N lớn hơn 500µg/L và photpho P lớn hơn 20µg/L. Đặc điểm nhận thấy của hiện tượng này là nguồn nước chuyển sang màu xanh do sự phát triển mạnh của rêu, tảo. Tảo sản sinh với số lượng lớn trong thời gian nhanh chóng sinh khối có thể tăng gấp đôi trong vòng 24h làm nước bị đục và ô nhiễm do mất cân bằng môi trường. Quá nhiều phú dưỡng sẽ gây ra hiện tượng nở hoa với mức độ tập trung lên tới vài triệu tế bào tảo trên 1ml. Xem thêm Các phương pháp xử lý photpho trong nước thải mang lại hiệu quả tốt nhất Nguyên nhân gây ra tình trạng phú dưỡng Hiện tượng phú dưỡng xuất hiện do nhiều nguyên nhân. Trước hết, từ các nguồn gây ô nhiễm như nước thải nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư,… chứa các thành phần dinh dưỡng chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn xả thải trước khi đưa vào nguồn tiếp nhận là chủ yếu. Bên cạnh đó, một nhân tố vô cùng lớn cũng góp phần tạo nên hiện tượng phú dưỡng chính là các hoạt động nông nghiệp. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2020, nước ta đã sử dụng 7,6 triệu tấn phân bón hóa học. Cũng theo Báo cáo ngành phân bón tháng 9/2019 cho thấy, cơ cấu tiêu thụ lượng phân bón hóa học năm 2018 tới hơn 90%; trong đó nổi bật là NPK chiếm tỷ lệ cao nhất 35,5%. Lượng phân bón hóa học sử dụng ngày càng nhiều với liều lượng vượt quá giới hạn, trong khi cây trồng chỉ hấp thụ một lượng nhất định chất dinh dưỡng cung cấp, lượng còn lại sẽ theo các dòng chảy tràn về lại nguồn tiếp nhận hoặc tồn đọng lại trong đất và thẩm thấu tới nguồn nước. Một nguyên nhân khách quan khác như khả năng tự lọc nước của hồ nhờ các vi sinh vật tự nhiên. Các vi sinh vật này đảm nhận vai trò cân bằng sinh thái và tạo ra dưỡng chất. Dưỡng chất khi không được tiêu thụ hết sẽ bị dư thừa dẫn đến hiện trạng phú dưỡng. Các hiện tượng tự nhiên cũng là nguyên nhân gây ra phú dưỡng. Sạt lở, xói mòn mang theo các dưỡng chất có trong đất sẽ theo đó đi vào nguồn nước làm cho nước mất ổn định và có hiện tượng phú dưỡng. Xem thêm Chu trình của Nitơ và quá trình xử lý Nitơ trong nước thải Tác động của hiện tượng phú dưỡng Làm giảm oxy trong nước tảo được biết đến với vai trò là một thiết bị cung cấp khí O2 nhờ quá trình quang hợp trong điều kiện có ánh sáng. Tuy nhiên, vào ban đêm, tảo lại thực hiện quá trình hô hấp dẫn đến tình trạng hao hụt, gây nên sự cạnh tranh oxi giữa các sinh vật khác. Mất cân bằng sinh thái rong, tảo phát triển, làm hạn chế quá trình sinh trưởng của các loài sinh vật. Một số loài do thiếu dưỡng chất do quá trình trao đổi chất bị hạn chế sẽ chết đi làm suy giảm số lượng loài. Tạo lớp bùn đáy dày tảo, rêu khi chết đi sinh khối của chúng sẽ tạo nên lượng lớn bùn lắng xuống đáy. Mực nước trong ao, hồ sẽ ngày càng giảm đi, diện tích hồ bị thu hẹp và trở thành đầm lầy. Gây mùi hôi làm mất mỹ quan phú dưỡng khiến sinh vật thủy sinh chết hàng loạt, kèm theo đó là quá trình phân hủy sinh khối trong điều kiện thiếu khí, quá trình này tạo ra lượng lớn NH3 và H2S gây ra mùi hôi ảnh hưởng đến môi trường sống. Suy giảm chất lượng nước quá trình phân hủy sinh khối sản sinh ra một số hợp chất khác, làm thay đổi thành phần hóa học của nguồn nước, các chỉ tiêu nồng độ không đảm bảo, do vậy chất lượng nguồn nước sẽ bị suy giảm. Gây đột biến sinh vật trong nước sinh vật sống trong môi trường điều kiện phát triển không thuận lợi sẽ rất dễ bị mắc bệnh, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hệ gen của chúng. Cách kiểm soát phú dưỡng hóa Cần có các trạm xử lý nước thải sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi,…. Kiểm soát, thu gom các nguồn nước thải về trạm xử lý nước thải Kiểm soát nguồn nước thải trước khi xả thải. Việc khử nito và photpho đến dưới nồng độ cho phép trước khi xả ra nguồn tiếp nhận là cần thiết. Các công trình xử lý nước thải hiện nay đều có các quy trình, công nghệ xử lý hiệu quả chất dinh dưỡng riêng bằng phương pháp sinh học, hóa lý,… Xử lý bằng thực vật thủy sinh để loại bỏ yếu tố phú dưỡng, thân thiện với môi trường. Ngoài hiệu quả loại bỏ thành phần phú dưỡng, sử dụng thực vật thủy sinh còn loại bỏ hiệu quả vi tảo và vi kim loại có trong nước. Công nghệ này có chi phí thấp nhưng ổn định và mang lại hiệu suất cao, có thể ứng dụng để xử lý phú dưỡng trên diện rộng. Xem thêm Ứng dụng thực vật thủy sinh trong xử lý nước thải phân tán, chi phí vận hành thấp, hiệu quả cao Xử lý bùn đáy việc xử lý bùn đáy ao là cần thiết để làm giảm tác động tiêu cực của lớp bùn đáy sinh ra như mùi hôi, khí độc, thiếu oxy,… Áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn trong quá trình sản xuất nhằm làm giảm lượng chất thải. Khuyến khích sử dụng các loại phân hữu cơ, phân chuồng ít tác động môi trường hạn chế phân bón hóa học. Thực hiện trồng cây ven kênh, sông, ao, hồ, đồi trọc để giảm hiện tượng sạt lở, xói mòn rửa trôi chất dinh dưỡng. Với nhiều năm kinh nghiệm xử lý nước thải và tái sử dụng nước thải cho nhiều lĩnh vực khác nhau, NTS không chỉ là đơn vị hỗ trợ tư vấn giải pháp sử dụng nước mà còn là đơn vị hỗ trợ miễn phí thiết kế hệ thống xử lý nước thải, nước cấp cho các dự án vừa và nhỏ. NTS cam kết sẽ giúp doanh nghiệp của bạn sở hữu công trình đạt hiệu quả tối ưu và tiết kiệm nhất. Tư vấn miễn phí sử dụng vật liệu, chọn thiết bị phù hợp công nghệ Gọi ngay 0944595900 CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT NTS Trụ sở Số 15, đường số 3, Khu dân cư Gia Hòa, Phường Phước Long B, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại 0888 167 247 Email nts Website Facebook Đăng nhập Hiện tượng phú dưỡng ở các vùng nước xảy ra do giàu lên quá mức bởi các chất dinh dưỡng dẫn đến tăng trưởng không kiểm soát của tảo, làm phát sinh tảo lam, tảo độc, giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do phân hủy các chất hữu cơ, gia tăng chi phí xử lý nước, làm cho các hồ dần dần trở nên nông hơn ảnh hưởng đến việc cung cấp nước. Hiểu được các đặc điểm diễn biến phú dưỡng trong các vùng nước là một trong những cơ sở khoa học cần thiết cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, kiểm soát chất lượng nước. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu này bước đầu đưa ra một số kết quả về việc khảo sát hiện tượng phú dưỡng thông qua các chỉ số Tổng Ni tơ/Tổng Phốtpho TN/TP, mức độ dinh dưỡng và chỉ số trạng thái phú dưỡng TSI… ở hồ Okubo thuộc vùng Kyushu, Nhật Bản Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 BÀI BÁO KHOA HỌC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ PHÚ DƯỠNG HÓA Ở MỘT HỒ NÔNG CỦA NHẬT BẢN Tạ Đăng Thuần1, Bùi Quốc Lập2, Masayoshi Harada3, Kazuaki Hiramatsu3 Tóm tắt Hiện tượng phú dưỡng ở các vùng nước xảy ra do giàu lên quá mức bởi các chất dinh dưỡng dẫn đến tăng trưởng không kiểm soát của tảo, làm phát sinh tảo lam, tảo độc, giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do phân hủy các chất hữu cơ, gia tăng chi phí xử lý nước, làm cho các hồ dần dần trở nên nông hơn ảnh hưởng đến việc cung cấp nước. Hiểu được các đặc điểm diễn biến phú dưỡng trong các vùng nước là một trong những cơ sở khoa học cần thiết cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, kiểm soát chất lượng nước. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu này bước đầu đưa ra một số kết quả về việc khảo sát hiện tượng phú dưỡng thông qua các chỉ số Tổng Ni tơ/Tổng Phốtpho TN/TP, mức độ dinh dưỡng và chỉ số trạng thái phú dưỡng TSI… ở hồ Okubo thuộc vùng Kyushu, Nhật Bản. Từ khóa Phú dưỡng, Tổng Ni tơ TN, Tổng Phốt pho TP, Chỉ số trạng thái phú dưỡng TSI, hồ Okubo. 1. GIỚI THIỆU CHUNG1 Phú dưỡng là một trong những vấn đề chất lượng nước điển hình thường xảy ra ở các thủy vực, đặc biệt là các vùng nước tĩnh, nông. Chúng làm tăng các chất lơ lửng, chất hữu cơ, làm suy giảm lượng ôxy trong nước, nhất là ở tầng dưới sâu gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng nước và hệ sinh thái nước. Theo nhiều nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến hiện tượng phú dưỡng bao gồm nồng độ các chất dinh dưỡng trong thuỷ vực cao, đặc biệt là các muối đa lượng nitơ và phốt pho Blomqvist et al., 1994, nhiệt độ nước ấm, cường độ chiếu sáng, pH cao, hàm lượng CO2 thấp Cronberg and Annadotter, 2006; Zimba et al., 2006. Vì vậy, việc đánh giá sự phú dưỡng đã được nhiều các nhà khoa học công bố trong những nghiên cứu của mình. Trong nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp đánh giá từ mức độ dinh dưỡng thông qua so sánh với nồng độ TN, TP, Håkanson et al., 2007 đến xem xét trạng thái dinh dưỡng của hồ Carlson, 1977 và chỉ ra 1 Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên. 2 Trường Đại học Thủy Lợi. 3 Trường Đại học Kyushu, Nhật Bản. chất dinh dưỡng hạn chế với sự phát triển của tảo WHO, 2002 nhằm có cái nhìn đầy đủ hơn về đặc điểm phú dưỡng của hồ nghiên cứu để có thêm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý và kiểm soát phú dưỡng một cách hiệu quả. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mô tả khu vực nghiên cứu Hồ Okubo là hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp ở bán đảo Itoshima, phía Tây thành phố Fukuoka của quần đảo Kyushu, Nhật Bản. Là hồ nhỏ có diện tích mặt nước khoảng m2, độ sâu trung bình khoảng 3m với tổng trữ lượng nước khoảng m3. Hình 1. Ví trí của hồ Okubo-Nhật Bản KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 Thời gian lấy mẫu nước Thời gian lấy mẫu nước được thực hiện từ ngày 13/5/2015 đến 27/10/2015 trong khoảng thời gian từ mùa Xuân Tháng 5, mùa Hè tháng 6-8, đến mùa Thu tháng 9, 10. Là hồ nhỏ, nông nên ta coi như hồ hòa trộn đều. Mẫu lấy đại diện cách bờ khoảng 1m và độ sâu khoảng 20 cm dưới mực nước hồ bằng chai nhựa polyethylene. Mỗi tuần lấy 1 lần vào khoảng 9 - 10 giờ sáng. Phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng nước Phương pháp phân tích Các thông số pH, nồng độ oxy hòa tan DO và nhiệt độ nước, độ dẫn điện được đo trực tiếp tại hiện trường bằng máy đo nhanh đa chỉ tiêu HORIBA U-20. Các chỉ tiêu NH4-N, NO3-N, NO2-N, PO4-P, Tổng phốt pho TP được xác định bằng phương pháp quang phổ trên máy đo quang UV-Vis 1800, Shimadzu-Nhật. Tổng Ni tơ TN được đo bằng phương pháp APHA 4500B-N APHA, 2001. Chlorophyll a được chiết xuất với 90% acetone và xác định bằng phương pháp quang phổ APHA, 2001 trên máy UV-Vis 1800, Shimadzu-Nhật. Đánh giá chất lượng nước - Số liệu đo đạc và phân tích được tính toán theo giá trị trung bình tháng. - Việc đánh giá chất lượng nước mặt bằng cách so sánh các thông số với Tiêu chuẩn chất lượng nước hồ của Nhật Bản EQSs, 2003 được trình bày trong Bảng 1. - Đánh giá mức độ phú dưỡng + So sánh các thông số TP, TN và theo phân loại dinh dưỡng hồ theo tiêu chuẩn của Hakanson và cs Håkanson et al., 2007 thành 4 mức Nghèo dinh dưỡng, dinh dưỡng trung bình, phú dưỡng và siêu phú dưỡng. + Tính toán chỉ số phú dưỡng TN/TP rồi so sánh, đánh giá với tiêu chuẩn của WHO WHO, 2002 xem xét yếu tố dinh dưỡng nào là hạn chế với sự phát triển của tảo. + Xem xét trạng thái phú dưỡng của hồ theo chỉ số trạng thái dinh dưỡng Carlson Carlson, 1977 với ba chỉ số TSITP, TSITN và TSI Bảng 1. Tiêu chuẩn một số thông số chất lượng nước hồ ở Nhật Bản Giá trị tiêu chuẩn MứcMục đích sử dụng pH COD mg/lSS mg/l DO mg/l TổngColiformMPN/100 ml AA Dùng cho mnuôi cá cấp 1 và bảo tồn thiên nhiên và mục đích sử dụng như lọai A ≤pH ≤ ≤ 1 ≤ 1 ≥ ≤ 50 A Dùng cho mnuôi cá cấp 2, 3, nước tắm và mục đích sử dụng như loại B ≤ pH ≤ ≤ 3 ≤ 5 ≥ ≤ 1000 B Dùng cho mnuôi cá cấp 3, cấp công nghiêp, và nông nghiệp ≤ pH ≤ ≤ 5 ≤ 15 ≥5 - C Dùng cho mục đích cho công nghiệp, bảo tồn môi trường ≤ pH ≤ ≤ 8 Dạng bụi nổi hoặc không phát hiện ≥2 - KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 Giá trị tiêu chuẩn MứcMục đích TN mg/l TP mg/lI Mục đích bảo tồn môi trường tự nhiên và mục đích sử dụng như II≤ ≤ II Nước cấp loại 1,2,3, nuôi cá loại 1, nước tắm và mdụng như loại III-V ≤ ≤ III Nước cấp loại 3 loại đặc biệt mục đích sử dụng như loại IV-V ≤ ≤ IV Dùng cho mục đích nuôi cá loại 2, mục đích sử dụng như loại V≤ ≤ V Nuôi cá loại 3, cấp công nghiệp, nông nghiệp và btrường ≤ 1 ≤ 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Các thông số chất lượng nước Các thông số Nhiệt độ, pH, DO, Độ dẫn điện EC đo đạc ở hồ Okubo được biểu diễn trong Hình 2, NH4-N, NO3-N, TN, PO4-P, TP, Chlorophyll-a trong Hình 3, thống kê mô tả các thông số chất lượng nước được chọn thể hiện ở Bảng 2 và ma trận tương quan được thể hiện trong Bảng 3. Nhiệt độ trung bình trong hồ Okubo là cao nhất trong tháng 8 là và thấp nhất trong tháng 10 là Giá trị nhiệt độ quan trắc có sự tương quan nghịch với EC r= NO3-Nr= TPr= và tương quan thuận với pHr= DOr= TN Chl-ar= pH ở hồ Okubo giá trị cao nhất vào tháng 8 là và thấp nhất vào tháng 9 là giá trị trung bình là pH trong hồ có xu thể tăng dần từ mùa xuân đến hè, giảm vào mùa thu, độ dịch chuyển từ trung tính đến kiềm. Một số thời điểm chủ yếu vào mùa hè pH cao không phù hợp với tiêu chuẩn cấp nước cho nông nghiệp. pH có tương quan thuận lớn với nhiệt độ r= DOr= r= và tương quan nghịch với TP r= Điều này cho thấy pH tăng cao vào mùa hè thích hợp cho sự phát triển của tảo. Giá trị DO trung bình ở hồ Okubo là mg/l, cao nhất trong tháng 6 là và thấp nhất trong tháng 8 là phù hợp với tiêu chuẩn cho phép ở mức AA EQSs, 2003 và với mục đích cung cấp nước cho nông nghiệp. Sự gia tăng nhiệt độ, đặc biệt là vào mùa hè đi kèm với sự sụt giảm của DO. Điều này được giải thích bởi sự phụ thuộc của độ hòa tan oxy vào nhiệt độ nước, trong đó tăng vào mùa hè. EC có giá trị trung bình là 174µS/cm, cao nhất vào tháng 9 là 199µS/cm thấp nhất vào tháng 7 là 148µS/cm. Điều này cho thấy sự gia tăng các ion hòa tan trong nước vào mùa thu. EC có tương quan nghịch với nhiệt độ r= pHr= DOr= a b KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 c d Hình 2. Sự biến đổi hàng tháng của các thông số chất lượng nước ở hồ Okubo Trung bình độ biến thiên a. Nhiệt độ, b. pH, c. Nồng độ oxy hòa tan DO, d. Độ dẫn điện EC Giá trị NO3-N có giá trị trung bình là mg/l, giá trị thấp nhất vào tháng 7 và tháng 8 cao nhất vào tháng 10. NO3-N có mối tương quan thuận NH4-N r= TN r= TPr= và tương quan nghịch với nhiệt độ r= và r= NH4-N có xu thế tăng dần từ mùa xuân sang mùa hè cùng với sự tăng dần của lượng mưa dẫn đến tăng dòng chảy bề mặt cùng với tăng lượng chất hữu cơ từ nông nghiệp và các nguồn khác cao nhất vào tháng tám và giảm dần vào mùa thu thấp nhất vào tháng 10, giá trị trung bình là mg/l. NH4-N có tương quan thuận với NO3-Nr= TNr= Chl-ar= tương quan nghịch với ECr= Giá trị PO4- P có giá trị cao nhất vào tháng 9 là và thấp nhất vào tháng 5 là mg/l. PO4-P có tương quan thuận EC r= TPr= Hàm lượng PO4-P có sự biến động lớn theo mùa có xu thế tăng vào mùa hè và vai trò rất lớn trong sự phát triển của tảo trong nước. a b KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 c d e f Hình 3. Sự biến đổi hàng tháng của các thông số chất lượng nước ở hồ Okubo Trung bình ± độ biến thiên a. Hàm lượng NO3-N, b. Hàm lượng NH4-N, c. TN, d. PO4-P, Với thông số TN và TP ta có Hàm lượng TN có dao động từ đến giá trị trung bình là cao hơn mức III EQSs, 2003 nhưng vẫn đảm bảo cấp nước cho nông nghiệp. Các giá trị TN thấp thường tập trung nhiều trong mùa hè. TN có tương quan thuận đáng kể với r= DO r= Hàm lượng TP của hồ Okubo có giá trị trung bình là nằm trong ngưỡng ở mức III EQSs, 2003, có xu thế tăng trong mùa hè và giảm dần vào mùa xuân. Điều đó cho thấy nước hồ có hàm lượng dinh dưỡng trung bình vẫn đảm bảo cho mục đích cấp nước cho nông nghiệp. TP có mối tương quan thuận nhỏ với TNr= và tương quan nghịch đáng kể với pH r= DOr= nhiệt độ r= r= Điều này có thể cho thấy các nguồn thải chứa Nitơ và phốt pho chảy vào hồ tương đối độc lập. có sự biến động theo mùa lớn, tăng về mùa hè khi nhiệt độ tăng và ngày dài hơn và giảm về mùa thu khi nhiệt độ giảm và ngày ngắn hơn. có sự quan thuận với nhiệt độ r= pHr= DOr= TNr= tương quan nghịch với NO3-N r= Điều này cho thấy nhiệt độ, DO ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo, thực vật phù du. KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 Bảng 2. Thống kê mô tả các thông số chất lượng nước ở hồ Okubo Thông số Số mẫu Trung bình Số trung vị Độ lệch chuẩn Độ biến thiên % Min Max Nhiệt độ0C 25 pH 25 DO mg/l 25 EC S/cm 25 174 171 14 148 199 NO3-N mg/l 25 NH4-N mg/l 25 TN mg/l 25 PO4-P mg/l 25 TP mg/l 25 mg/l 25 Bảng 3. Ma trận tương quan giữa các thông số chất lượng nước Hệ số tương quan của Spearman rNhiệt độ pH DO EC NO3-N NH4-NTN PO4-PTP độ pH DO EC NO3-N NH4-N TN PO4-P TP Đánh giá hiện tượng phú dưỡng trong hồ Tính toán chỉ số phú dưỡng TN/TP Phốt pho là chất dinh dưỡng giới hạn khi tỷ lệ TN/TP vượt quá 6, trong khi Nitơ là giới hạn dinh dưỡng khi tỷ lệ này là ≤ Với tỷ lệ TN/TP từ đến 6 nghĩa là một trong hai nguyên tố hoặc Phốt pho hoặc Nitơ có thể là chất dinh dưỡng giới hạn hoặc cả hai WHO, 2002. Chúng tôi đã xác định được tỷ lệ TN/TP ở hồ Okubo và yếu tố giới hạn dinh dưỡng giữa các mùa Hình 4. Hình 4. Biểu đồ tỷ lệ TN/TP theo mùa ở hồ Okubo KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 Phân tích phương sai ANOVA được thực hiện để xác định sự biến đổi theo mùa của tỷ lệ TN/TP. Kết quả của ANOVA TN/TP theo mùa được xác định có ý nghĩa TN/TP F= p= Nhìn vào Hình 4 ta thấy tỷ lệ TN/TP các mùa ở hồ Okubo đều cao hơn 6. Điều đó chứng tỏ Phốt pho là chất dinh dưỡng giới hạn sự phát triển của tảo. Giá trị TN/TP cao nhất vào mùa hè là và thấp nhất vào mùa xuân là Điều này cho thấy lượng phốt pho giải phóng từ trầm tích và tải vào hồ từ các nguồn có lượng thấp. Tính toán chỉ tiêu phú dưỡng đối với nước hồ theo chỉ số trạng thái phú dưỡng Chỉ số TSI của hồ được tính toán là trị số TSI trung bình của các tháng và được biểu thị trên Hình 3. TSITP, TSITN, TSI trung bình ở hồ Okubo là .TSITP, TSI cho thấy hồ trạng thái phú dưỡng. TSITN cho thấy hồ ở trạng thái dinh dưỡng trung bình. Hình 5. Trạng thái phú dưỡng nước hồ Okubo theo chỉ số dinh dưỡng Carlson Đường nét đứt chỉ ra các giá trị ngưỡng nghèo dinh dưỡng 30, dinh dưỡng trung bình 40, phú dưỡng 50, phú dưỡng đến phì dưỡng 60, phì dưỡng 70 Trong các chỉ số, TSI là cao nhất. Qua đó ta thấy xu thế phát triển mạnh của tảo và thực vật thủy sinh trong hồ. Tính toán phú dưỡng nước hồ theo hàm lượng tổng P, Tổng Ni tơ và So sánh kết quả tính toán trung bình thời gian quan trắc hàm lượng TN, TP và trong Bảng 4 ta thấy Với hàm lượng TP, thì trạng thái dinh dưỡng của hồ ở mức phú dưỡng. Bảng 4. Phân loại dinh dưỡng của hồ Okubo theo Hakanson và cs Thông số Nghèo dinh dưỡng Dinh dưỡng trung bình Phú dưỡng Phì dưỡng Hồ Okubo Tổng phốt pho mg/l Tổng ni tơ mg/l g/l 20 Tuy nhiên với hàm lượng TN là mg/l ở trạng thái dinh dưỡng của hồ ở mức phì dưỡng. Điều này cho thấy sự khác biệt trong cách đánh giá dinh dưỡng ở cùng một tiêu chuẩn với các thông số khác nhau. 4. KẾT LUẬN Từ số liệu phân tích chất lượng nước, một vài kết luận được rút ra về sự phú dưỡng ở hồ Okubo như sau 1- Thông qua đánh giá chất lượng nước chỉ ra rằng chất lượng nước hồ Okubo ở mức độ trung bình theo tiêu chuẩn EQSs. Trong khi thông số DO vẫn phù hợp với mọi mục đích sử dụng thì thông số pH cho thấy nước mặt hồ đang bị kiềm hóa mạnh và thông số TN, TP phù hợp với mục đích cấp nước ở mức IV,V. Ta thấy các thông số chất lượng nước liên quan đến phú dưỡng TN, TP, ở hồ có sự biến động theo mùa. Điều này cho thấy chất lượng nước ở hồ thay đổi theo mùa trong năm. 2- Các yếu tố của môi trường như nhiệt độ, pH, DO, EC và nguồn thải giàu N,P có vai trò quan trọng gây ra phú dưỡng hóa ở hồ Okubo. 3- Với việc đánh giá mức độ phú dưỡng thông qua các chỉ số TN/TP và chỉ số dinh dưỡng Carlson, ta thấy hiện tượng phú dưỡng KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 57 6/2017 đang có xu thế phát triển ở hồ Okubo. Theo tiêu chuẩn của Hakanson và cs, với giá trị TP, thì trạng thái dinh dưỡng trong hồ là phú dưỡng, nhưng xét theo hàm lượng TN thì mức độ dinh dưỡng là phì dưỡng. Vì vậy cần có những nghiên cứu làm rõ thêm mối liên hệ giữa các chất dinh dưỡng và sự phát triển của tảo và thực vật thủy sinh trong nước. 4- Nước hồ Okubo chỉ có thể sử dụng vào một số mục đích cần tiêu chuẩn nước thấp như cấp nước cho nông nghiệp vì vậy để cải thiện chất lượng nước ngoài việc kiểm soát các nguồn thải đặc biệt chứa nhiều phốt pho còn phải có chế độ giám sát chất lượng nước theo mùa để có thể cải thiện chất lượng nước hồ đảm bảo việc phát triển bền vững. TÀI LIỆU THAM KHẢO Blomqvist P, Pettersson A, Hyenstrand P. 1994. Ammonium-nitrogen - A key regulatory factor causing dominance of non-nitrogen-fixing cyanobacteria in aquatic systems. Archiv für Hydrobiologie 132, 141–164. Carlson RE. 1977. A trophic state index for lakes. Limnol Oceanogr 22, 361-369. Cronberg G, Annadotter H. 2006. Manual on Aquatic Cyanobacteria A Photo Guide and a Synopsis of their Toxicology. Copenhagen ISSHA and IOC of UNESCO. EQSs. 2003. Environment Quality Standards for Conversation of the living environment. Ministry of the Environment, Japan. Lars Håkanson, Andreas C. Bryhn, Julia K. Hytteborn. 2007. On the issue of limiting nutrient and predictions of cyanobacteria in aquatic systems. Science of the Total Environment 379, 89-108. World Health Organization WHO. 2002. Eutrophication and health. Office for Official Publications of the European. Zimba PV, Al Camusa, Elle H. Allenb, JoAnn M. Burkholder. 2006. Co-occurrence of white shrimp, Litopenaeus vannamei, mortalities and microcystin toxin in a southeastern USA shrimp facility. Aquaculture, 261 3, 1048–1055. Abstract THE STUDY AND EVALUATION OF EUTROFICATION IN A SHALLOW LAKE IN JAPAN The eutrophication of water bodies occurs due to over-enrichment of nutrients, causing uncontrolled growth of algae, development of cyanobacteria, toxic algae and decreased dissolved oxygen concentration in the water due to decomposition of organic matters, increasing water treatment costs, making the water bodies gradually become shallower and shallower, affecting water supply. Understanding the characteristics of eutrophication developments in the water bodies is one of the scientific basis needed for proposing management solutions as well as water quality control. In that sense, this study provides some preliminary results of the study on investigation of the eutrophication through indicators such as Total Nitrogen/Total Phosphorus ratio TN/TP, Trophic State Index TSI ... in Okubo pond of Kyushu Prefecture, Japan. Keywords Eutrophication, Total Nitrogen TN, Total Phosphorus TP, Trophic State Index TSI, the Okubo Pond. BBT nhận bài 05/4/2017 Phản biện xong 13/6/2017 ResearchGate has not been able to resolve any citations for this has not been able to resolve any references for this publication. PHÚ DƯỠNG LÀ GÌ? Phú dưỡng là hệ quả sau khi ao ngòi, sông hồ nhận quá nhiều các nguồn thải chứa các chất dinh dưỡng Nitơ, Photpho vượt quá khả năng tự điều hòa của ao, hồ. Các nguồn thải xả thải cung cấp đầu vào cho quá trình này tăng lên từng ngày. Thông thường, tiến trình thường được diễn ra trong thời gian dài, ngắn tùy theo tổng mức độ ô nhiễm được đưa vào ao hồ. Đồng thời, trong quá trình này, lượng bùn trong nước thải làm thu hẹp dần lòng hồ. Đặc điểm dễ dàng nhận thấy, Nước ao ám màu xanh của tảo phát triển. Ban đầu, chúng chỉ xuất hiện mảng nhỏ. Về sau, nếu không được xử lý, toàn bộ mặt nước đều chuyển màu. Mặt khác tác động nguy hiểm ở góc độ sinh thái, làm giảm nồng độ oxy do phân hủy của các tảo. Các hồ phú dưỡng thường có nồng độ oxy cao trên bề mặt và trong mùa hè, nhưng có nồng độ oxy thấp ở tầng sâu – đây là nguyên nhân gây chết cá. Quan niệm hiện nay về phú dưỡng liên quan với sự gia tăng mạnh số lượng P và N có trong ao hồ mà ở điều kiện bình thường có giá trị thấp. P thường là nguyên nhân chính của phú dưỡng so với N vì đây là yếu tố tăng trưởng hạn chế của tảo trong hồ. Tảo thường sử dụng N cao gấp từ 4 – 10 lần so với P, trong đó tỷ lệ N/P trong nước thải chỉ là 3 lần. Có rất nhiều các nguyên tố quan trọng tham gia vào chu trình nguyên tố tạo nên sự phú dưỡng. Sự tăng trưởng của thực vật trôi nổi là quá trình chủ đạo trong sự hình thành phú dưỡng, có ý nghĩa quan trọng để nhận thức quá trình điều hòa sinh trưởng. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được. Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí CO2, CH4, H2S tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ PHÚ DƯỠNG Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Sử dụng phân bón trong trồng trọt. Phân bón dường như là một phần không thể thiếu trong nông nghiệp, thúc đẩy quá trình phát triển của cây trồng. Cũng vì vậy, nhiều người lầm tưởng, bón càng nhiều phân càng tốt. Thực chất, cây trồng chỉ hấp thụ một lượng nhất định. Khi lượng này vượt quá khả năng đồng hóa của đất, chúng sẽ theo dòng chảy mặt ra ao, hồ. Nước thải sinh hoạt xả thải trực tiếp ra môi trường. Nước thải sinh hoạt chứa lượng chất hữu cơ rất lớn. Chúng bao gồm nước thải nhà vệ sinh, rửa bát, làm sạch thực phẩm, chứa nhiều cặn thức ăn, dầu mỡ. Hiện tại, giống như nhiều nước đang phát triển khác, nước ta chưa có nhiều hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt. Đa phần, nước theo cống, chảy thẳng ra ao hồ khu vực. Nước thải chăn nuôi. Đây là nguồn thải giàu chất hữu cơ nhất, thường đến từ các cơ sở chăn nuôi gia đình. Phân hữu cơ chứa lượng lớn nitơ và photpho đẩy quá trình phú dưỡng diễn ra theo tiến trình nhanh nhất. TÁC HẠI CỦA PHÚ DƯỠNG HOÁ Tảo phát triển mạnh sẽ hạn chế ánh nắng mặt trời. Lượng oxy hoà tan tăng đáng kể khi trời tối do sự hô hấp của tảo, gây thiếu oxy cho sinh vật thuỷ sinh. Hiện tượng phú dưỡng hoá có thể gây ra thay đổi trong thành phần loài của hệ sinh thái. Rong tảo khi chết đi sẽ phân huỷ tạo ra khí độc NH3, mùi hôi gây nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Thêm vào đó, các sinh vật phù du này tạo ra một lượng lớn bùn đáy lắng xuống ao hồ, Lâu dài ao hồ ngày càng nông hơn, mặt hồ càng ngày càng bị thu hẹp, cuối cùng biến thành đầm lầy. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ PHÚ DƯỠNG Phú dưỡng là mối đe dọa nghiêm trọng với môi trường, nguồn nước ngọt tự nhiên, các nghề nuôi trông thủy hải sản. Trước những hậu quả đáng lưu tâm này, cần có những biện pháp hạn chế hoặc bị đẩy lùi hiện tượng phú dưỡng. Phú dưỡng tăng lên khi nguồn dinh dưỡng tăng, nên các biện pháp hạn chế nguồn thải này được đề xuất như Xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp. Xử lý nước thải chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi tôm, thủy hải sản trước khi xả ra môi trường. Với nước thải gia súc, bạn có thể xây bể biogas. Giải pháp này được sử dụng phổ biến ở nhiều vùng nông thôn với chi phí đầu tư rất thấp. Vừa giúp giảm chất hữu cơ ra môi trường, xử lý mùi hôi, lại cung cấp thêm năng lượng khí biogas cho nấu nướng, sinh hoạt. Không bón phân hóa học, hữu cơ quá nhiều. Bổ sung vi sinh cho ao hồ. Số lượng vi sinh nhiều sẽ không còn dư thừa chất dinh dưỡng. Đồng thời vi sinh còn giúp cho quá trình trao đổi chất diễn ra nhanh chóng. Xử lý bùn đáy ao, hồ cũng là một biện pháp cần áp dụng. Quản lý và hạn chế phú dưỡng là vấn đề phức tạp cần đến sự chung tay của nhiều người. Cho dù nước ao hồ không thuộc bất kì sở hữu riêng của cá nhân nào. Thế nhưng, nếu bảo vệ được nguồn nước ao hồ xanh, sạch, đẹp. Đồng nghĩa, chúng ta đang xây dựng cho chính cộng đồng. Một không gian sạch, bảo vệ sức khỏe của những người xung quanh. Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Tư vấn Môi Trường Tân Huy Hoàng Tự hào là Đơn vị tiên phong về chất lượng, uy tín hàng đầu và giá rẻ nhất hiện nay. Với kinh nghiệm lâu năm trong ngành. Tân Huy Hoàng cam kết cung cấp cho Quý Khách hàng các sản phẩm phù hợp nhất, chất lượng cao nhất. Phù hợp với đặc điểm từng ngành nghề sản xuất với giá thành cạnh tranh, hiệu quả và tiết kiệm chi phí nhất. Chúng tôi có đội ngũ chăm sóc khách hàng chu đáo. Đội ngũ kỹ thuật tư vấn có chuyên môn với từng ngành nghề sản xuất. Và đội ngũ giao hàng nhanh chóng sẽ luôn mang đến sự hài lòng cho Quý Khách hàng. Để được sự tư vấn hoàn toàn miễn phí. Quý khách hàng xin vui lòng liên hệ – Ms. HẢI YẾN. ————————————- Dịch vụ trọn gói – Giá cả cạnh tranh – Chất lượng vượt trội Còn chần chờ gì nữa mà không liên hệ với chúng tôi. Để nhận được sự tư vấn nhiệt tình về các vấn đề môi trường. Cùng mức giá cạnh tranh nhất thị trường miền Nam? Liên hệ ngay Hotline 0902 695 765 – 0898 946 896 Fanpage Tư Vấn Môi Trường Tân Huy Hoàng Tham khảo thêm các dịch vụ khác tại đây CÔNG TY TNHH TMDV TƯ VẤN MÔI TRƯỜNG TÂN HUY HOÀNG Địa chỉ B24, Cx Thủy Lợi 301, Nguyễn Văn Thương, Thạnh, CN1 10/46 Lê Quí Đôn, KP4, P. Tân Hiệp, Tp. Biên Hòa, Đồng Nai. CN2 Lê Hồng Phong, Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương CN3 Đường huyện 87, Ấp Bình Phong, Tân Mỹ Chánh, Tp. Mỹ Tho, Tiền Giang Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí H2S Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. ngành chế biến thịt hộp hàm lượng N, P cao gấp 2,3 lần so với ngành chế biến sữa. Một nguyên nhân khác dẫn đến phú dưỡng là từ các dòng chảy tràn trên bề mặt cũng có khả năng mang về hồ lượng phân bón lớn trên mặt đất. Dần dần hồ tích tụ nhiều chất hữu cơ và bùn đẩy nhanh sự phát triển của các vi sinh vật dưới nước làm cho hồ trở nên giàu chất dinh dưỡng. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những tác nhân rất quan trọng gây nên hiện tượng phú dưỡng. Phân bón hóa học sử dụng ngày càng nhiều, nhất là phân đạm chứa N, phân lân chứa P. Lượng phân bón sử dụng ở Việt Nam trung bình 73,5kg/ha trung bình của thế giới là 95,4 kg/ha Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ, tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí của đô thị. Nước nở hoa hay tảo nở hoa là hiện tượng quá nhiều tảo sinh sản với số lượng nhanh trong nước làm nước bị đục màu xanhnhư giấm màu trắng và làm nước bị ô nhiễm do không có sự cân bằng môi trường. Đây là hiện tượng dễ tìm nhưng phải nhanh chóng loại bỏ nếu không sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. Nước nở hoa có thể gặp trong môi trường nước ngọt hoặc nước mặn, đặc biệt chỉ liên quan đến một vài loài thực vật phiêu sinh, và một số trường hợp nở hoa có thể được nhận biết thông qua sự đổi màu của nước do mật độ các tế bào tạo màu tăng cao. Mặc dù chưa có một giá trị ngưỡng để đánh giá vấn đề này, tuy nhiên tảo có thể được xem là tác nhân gây ra hiện tượng này với nồng độ hàng trăm đến hàng ngàn tế bào trên một ml, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng. Mức độ tập trung này có thể đạt đến vài triệu tế bào trên 1 ml. Nước nở hoa thường có màu lục, nhưng cũng có thể có các màu khác như nâu vàng hoặc đỏ tùy thuộc vào loại tảo. Mầm mống của tảo sẵn có trong môi trường nên có thể “nở hoa” bất cứ ở đâu khi gặp điều kiện thuận lợi, chẳng hạn như nhiệt độ tăng, việc trao đổi nước kém, hoặc điều kiện dinh dưỡng trong môi trường tăng, hay ô nhiễm môi trường biển… => Như vậy, phú dưỡng là nguyên nhân dẫn đến nhiều hậu quả, trong đó có hiện tượng nước nở hoa. Tại khu vực Hà Nội, phần lớn lượng nước thải sinh hoạt khoảng m3/ngày và lượng nước thải công nghiệp khoảng m3/ngày, khoảng 10% được xử lý được đổ thẳng vào các sông, ao, hồ. Ngoài ra, việc sử dụng bột giặt, các chất tẩy rửa chứa P được đưa trực tiếp vào ao hồ cũng đang rất đáng báo động. Hàng năm, chỉ tính riêng 2 thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã tiêu thụ trên tấn bột giặt/năm và tấn chất tẩy rửa/năm. Bên cạnh đó, nguồn thải từ các khu công nghiệp, các nhà máy cũng góp phần không nhỏ vào quá trình phú dưỡng ao hồ. Nguồn st Phú dưỡng là gì? Phú dưỡng là hiện tượng ao hồ bị dư thừa chất dinh dưỡng như nitrat N và phốt phát P. Khi bị quá tải, các thực vật phù du như tảo lam, rong rêu… sẽ tiêu hóa chất dinh dưỡng dư thừa này. Sự gia tăng đột biến của tảo khiến màu nước chuyển xanh lục hoặc đỏ. Điều này làm giảm khả năng sống của tôm, tép, cá,.. Các sinh vật phù du này sau khi chết sẽ phân hủy tạo ra một lượng lớn bùn đáy lắng xuống ao hồ. Lâu dài ao hồ ngày càng nông hơn, mặt hồ ngày càng bị thu hẹp, cuối cùng sẽ biến thành đầm lầy. Vì sao lại có hiện tượng phú dưỡng? Trong mỗi ao hồ luôn có vi sinh tự nhiên với vai trò lọc nước, cân bằng hệ sinh thái. Ba nguồn dinh dưỡng chính của vi sinh là Nitơ, Photpho và Cacbon. Tuy nhiên vi sinh chỉ tiêu hóa một lượng nhất định nên lượng dinh dưỡng dư thừa sẽ bị tảo hấp thụ Một nguyên nhân nữa là do nước thải xả thẳng ra ao hồ. Nguồn nước thải đó đến từ cống dẫn nước thải ở khu dân cư, đô thị, nhà máy, khu công nghiệp,...Hàm lượng các chất dinh dưỡng photphat và nitrat từ nguồn khi đổ trực tiếp vào hồ rất cao. Lượng N và P còn được tìm thấy tăng cao trong chất thải thủy sản. Nguồn nước thải chủ yếu tích tụ thức ăn thừa và phân tôm cá. Bên cạnh đó việc xả bỏ chất thải ao nuôi tôm ra ngoài môi trường nước chung cũng để lại nhiều hậu quả. Không những giảm chất lượng nước tự nhiên mà còn thúc đẩy phú dưỡng ở các vùng ao xung quanh. Tác hại Tảo phát triển mạnh sẽ hạn chế ánh nắng mặt trời. Lượng oxy hòa tan tăng đáng kể khi trời tối do sự hô hấp của tảo, gây thiếu oxy cho các sinh vật thủy sinh. Hiện tượng phú dưỡng có thể gây ra thay đổi trong thành phần loài của hệ sinh thái. Rong tảo khi chết đi sẽ phân hủy tạo khí độc NH3, mùi hôi ngây nguy hiểm cho người và vật nuôi. Thêm vào đó, các sinh vật phù du này tạo ra một lượng lớn bùn đáy lắng xuống ao hồ. Lâu dài ao hồ ngày càng nông hơn, mặt hồ ngày càng bị thu hẹp, cuối cùng sẽ biến thành đầm lầy. Xử lý hiện tượng phú dưỡng như thế nào? Đối với hồ chưa bị phú dưỡng, trước tiên cần tìm cách kiểm soát nước thải. Khuyến khích người dân sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng ủ hoại mục, hạn chế dùng phân hóa học. Đồng thời tiến hành phủ xanh đất trống để giảm hiện tượng xói mòn, trôi nguồn dinh dưỡng đi vào hồ. Bổ sung vi sinh cho ao hồ. Số lượng vi sinh nhiều thì sẽ không còn dư thừa chất dinh dưỡng. Đồng thời vi sinh còn giúp cho quá trình trao đổi chất diễn ra nhanh chóng. Một số loại vi sinh như Aquaculture Management còn có khả năng phân hủy tảo. Xử lý bùn đáy ao cũng là một biện pháp cần áp dụng. Bùn đáy ao sẽ nhanh chóng bị phân hủy khi có 5 tỷ vi khuẩn Bacillus trong vi sinh Auqaculture. Tuy nhiên khi tảo và bùn đáy phân hủy sẽ tạo ra mùi Amoni nồng nặc. Vì vậy dùng kết hợp với vi sinh Ammonia Reducer cũng từ hãng Organica Anh Quốc là một “bộ đôi” hoàn hảo chống lại phú dưỡng. Các tin khác Vì sao phải hạn chế chất rắn vào bể sinh học? Giảm amoni trong nước thải bệnh viện, phòng khám Tuổi Bùn Tốt Nhất Trong Quá Trình Bùn Hoạt Tính Màu Sắc Của Bọt Và Nước Nói Gì Về Hệ Thống? Các Ảnh Hưởng Của pH Tới Hiệu Suất Của Bể Sinh Học Tổng Hợp Các Vấn Đề Bùn Khó Lắng Và Nguyên Nhân Có Nên Nâng Cấp Thêm Bể Hiếu Khí? Bùn Nổi Ở Bể Lắng Và Tích Tụ Dưới Đáy

hiện tượng phú dưỡng hóa